Tìm kiếm thông tin

Chung nhan Tin Nhiem Mang

Hương Trà với những kết quả tích cực triển khai chuyển hướng chỉ đạo Công tác dân số trong tình hình mới
Ngày cập nhật 21/09/2022

Dân số vừa là lực lượng sản xuất, vừa là lực lượng tiêu dùng. Vì vậy, bất kỳ sự biến đổi nào về quy mô, cơ cấu, phân bố, nhất là chất lượng dân số đều tác động to lớn đến sự phát triển bền vững của thế giới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng theo chiều hướng hoặc tích cực, hoặc tiêu cực. Đối với Đảng ta, Đảng đã xác định tầm quan trọng của công tác này trong Nghị quyết 04-NQ/TW ngày 14 tháng 1 năm 1993 của Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về chính sách Dân số - KHHGĐ chỉ rõ: “Công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội”.

 

Hương Trà là một trong những địa phương đã làm tốt công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) trong những năm trước đây; nhiều phong trào, cuộc vận động thực hiện KHHGĐ đã được triển khai rộng khắp, tỷ lệ sinh và đặc biệt tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm đáng kể; trong những năm từ 2000 đến 2015 toàn thị xã chú trọng đến việc giảm sinh bằng các biện pháp tránh thai để giảm quy mô dân số và đạt được mục tiêu “ dừng lại ở 2 con để nuôi dạy tốt”, nhờ vậy những năm gần đây tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên dao động khoảng 1%, thị xã cơ bản đạt được mức sinh thay thế; Vì vậy trong chiến lược chung về công tác dân số đã có những chuyển hướng chỉ đạo từ việc quan tâm đến số lượng chuyển sang chú ý đến mục tiêu chất lượng, công tác DS-KHHGĐ sang Dân số và phát triển; điều ấy được thể hiện rõ trong kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XII) về “Công tác dân số trong tình hình mới”.

Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá XII) về “Công tác dân số trong tình hình mới” những kết quả đạt được là khá toàn diện, thể hiện ở 4 trụ cột của chiến lược này là:

 Tăng cường công tác Chỉ đạo: Công tác DS-KHHGĐ được sự quan tâm chỉ đạo của Cấp ủy Đảng, Chính quyền các cấp. Chỉ tiêu về dân số đều được đưa vào nghị quyết của Đảng ủy, HĐND các cấp, là một nội dung quan trọng trong chương trình hoạt động của các chính quyền, các ngành, đoàn thể, là một tiêu chuẩn để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của địa phương, đơn vị.

 Ban chỉ đạo DS-KHHGĐ các cấp thường xuyên được kiện toàn để tăng cường phối hợp giữa các cấp, các ngành, đoàn thể; sự phối hợp lồng ghép triển khai hoạt động về DS-KHHGĐ vào trong hoạt động của hội, đoàn thể nhằm vận động các cán bộ, hội viên và nhân dân tham gia thực hiện chính sách Dân số. Cán bộ, đảng viên gương mẫu đi đầu thực hiện và tuyên truyền, vận động gia đình và quần chúng nhân dân thực hiện chính sách DS-KHHGĐ, coi đó là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá việc hoàn thành nhiệm vụ, xem xét đề bạt, đề cử cán bộ vào các chức vụ lãnh đạo.

Nâng cao hiệu quả Công tác truyền thông: Thường xuyên nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền, vận động. Đa dạng hóa các kênh thông tin, hình thức tuyên truyền rộng rãi, hướng dẫn cụ thể để cán bộ và nhân dân hiểu đúng chính sách DS-KHHGĐ của Đảng và Nhà nước, đã góp phần làm chuyển biến nhận thức, nâng cao ý thức và hành vi của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong việc thực hiện chính sách DS-KHHGĐ. Qua đó, góp phần kiểm soát tốc độ gia tăng dân số và từng bước nâng cao chất lượng dân số.

-Triển khai thực hiện Đề án Kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh với các hoạt động: Phổ biến các luật nhằm nêu cao vai trò của phụ nữ trong xã hội hiện nay như Luật bình đẳng giới; Luật phòng, chống bạo lực gia đình; Luật hôn nhân và gia đình nhằm thúc đẩy cộng đồng thực hiện các chính sách hỗ trợ nâng cao vai trò, vị thế của trẻ em gái và phụ nữ nói chung, đặc biệt là trẻ em gái của các gia đình sinh con một bề là gái.  Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” thị xã đã hướng dẫn đưa nội dung chính sách dân số vào quy ước văn hóa cơ quan, đơn vị và quy ước văn hóa các thôn, Tổ dân phố.

Đáp ứng các dịch vụ về Kế hoạch hoá gia đình: TTYT thị xã, Trạm Y tế các xã, phường cơ bản đảm bảo chất lượng hệ thống cung cấp dịch vụ, CSSKSS/KHHGĐ, đáp ứng đầy đủ nhu cầu cho người sử dụng biện pháp tránh thai thường xuyên cũng như trong các đợt chiến dịch. Tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dân số: Các mô hình, đề án nâng cao chất lượng dân số như mô hình tư vấn và cung cấp dịch vụ DS-KHHGĐ cho vị thành niên/thanh niên; Sàng lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh; chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; đề án kiểm soát dân số vùng biển, đảo và ven biển; mô hình xã, phường, cụm dân cư không có người sinh con thứ 3 trở lên,... được triển khai tích cực và có hiệu quả.

Bảo đảm nguồn lực đầu tư: Ngân sách đầu tư cho công tác dân số ngoài chủ yếu từ nguồn ngân sách Trung ương và nguồn ngân sách tỉnh; các địa phương đã hỗ trợ một phần kinh phí để thực hiện công tác DS-KHHGĐ, trong đó uu tiên đầu tư cho các vùng đông dân có mức sinh cao, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn và các nhóm đối tượng là người nghèo, vị thành niên, thành niên.

Thực hiện theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 27/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tổ chức bộ máy DS-KHHGĐ cấp huyện được sáp nhập vào TTYT, được bố trí 06 biên chế; các xã, phường có 01 Viên chức DS-KHHGĐ làm việc tại Trạm Y tế. Ngoài ra lực lượng cộng tác viên là những người mang thông điệp tích cực về công tác Dân số đến với mọi người, toàn thị xã có 218 cộng tác viên DS-KHHGĐ.

Từ việc thực hiện một các đồng bộ các giải pháp trên, sau 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết công tác DS-KHHGĐ tại Hương Trà đã có những chuyển biến tích cực, được thể hiện ở các chỉ số sau:

Giảm tỷ lệ chênh lệch mức sinh giữa nông thôn và thành thị từ chỗ 11% xuống còn 9,3%, giữa miền núi và đồng bằng từ chỗ 19,5% xuống còn 16,5%.

Giảm tỷ lệ số vị thành niên, thanh niên có thai ngoài ý muốn từ 6,9%, nay giảm đến 25%. Tỷ số giới tính khi sinh từ 119 xuống còn 106. Tỷ lệ thanh niên nam, nữ được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn/tổng số kết hôn từ 15% lên 50%. Tảo hôn từ 0,9% xuống còn 0%. Tỷ lệ dân số đô thị từ 48,6% lên 62%. Tỷ lệ phát triển dân số từ 1,1% xuống còn 1,0%.

Kết quả thực hiện công tác Dân số ở Hương Trà đang được phát huy tích cực bằng việc thể hiện qua các chỉ số về chất lượng dân số; giai đoạn tới quan điểm chỉ đạo của Thị xã là : Tiếp tục duy trì mức giảm sinh, đặc biệt là giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên, từng bước ổn định quy mô, nâng cao chất lượng dân số. Đẩy mạnh hoạt động truyền thông gắn liền với việc cung cấp đầy đủ dịch vụ CSSKSS/KHHGĐ. Phấn đấu tiệm cận mức sinh thay thế; đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; phát huy lợi thế cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số; phân bố dân số hợp lý; nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội, an ninh và quốc phòng của địa phương. Trong đó phấn đấu duy trì tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên đến năm 2025 ở mức dưới 1%, đến năm 2030 ở mức dưới 0,9%. Số con của mỗi cặp vợ chồng năm 2025 là 2,25 con, năm 2030 là 2,1 con.

Để thực hiện tốt và đạt được các mục tiêu cho công tác Dân số trong giai đoạn tới, trên tinh thần tiếp tục phát huy những thành tựu của giai đoạn trước, tập trung đồng bộ các giải pháp căn bản đó là: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, Chính quyền các cấp đối với công tác Dân số, trong đó chỉ đạo xuyên suốt quan điểm nâng cao chát lượng dân số và nguồn nhân lực; Đổi mới nội dung tuyên truyền, vận động về công tác dân số; Hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về dân số;  Phát triển mạng lưới và nâng cao chất lượng dịch vụ về dân số- KHHGĐ; Bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số và Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ dân số các cấp chắc chắn rằng Hương Trà sẽ đạt được các mục tiêu cho công tác Dân số như kỳ vọng, nâng cao chất lượng Dân số để xây dựng thị xã trở thành một đô thị động lực góp phần cùng cả tỉnh để xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương theo định hướng Nghị quyết 54-NQ/TW ngày 10/12/2019 của Bộ Chính trị.

Trần Ngọc Huyến - Chánh Văn phòng HĐND-UBND thị xã
Các tin khác
Xem tin theo ngày  

Thống kê truy cập
Truy câp tổng 7.283.789
Truy câp hiện tại 11.707